Hai pool bảo vệ stablecoin USDC và USDT trên Aave Ethereum V3 giảm tổng cộng khoảng 12,43 triệu USD trong chưa đầy một tháng, dù mức thưởng bổ sung cho cả hai đều tăng. Giá trị tính bằng USD của hai vị thế giảm từ 128,52 triệu USD xuống 116,09 triệu USD, tương đương 9,67%. Diễn biến này cho thấy quy mô vốn có thể được dùng để bù đắp thiếu hụt trong hoạt động cho vay đã thu hẹp, trong khi mức bù đắp rủi ro trên mỗi đơn vị vốn tăng. Tuy nhiên, biến động số dư không đồng nghĩa toàn bộ khoản giảm là tiền người dùng rút ra.
Pool USDC giảm 5,3 triệu USD, USDT giảm 7,13 triệu USD
Hai vị thế thuộc cơ chế Umbrella của Aave. Người tham gia staking tài sản để tiếp tục nhận lợi suất cho vay cơ bản, đồng thời nhận thêm phần thưởng để chấp nhận rủi ro tài sản staking có thể bị sử dụng, thậm chí bị cắt giảm, nếu quỹ dự trữ phát sinh thiếu hụt.
Lúc 23:01 UTC ngày 17/9, giá trị tính bằng USD của pool bảo vệ USDC là 58,7396 triệu USD; đến 15:01 UTC ngày 17/10, con số này còn 53,4380 triệu USD, giảm khoảng 5,3 triệu USD. Trong cùng kỳ, pool USDT giảm từ 69,7839 triệu USD xuống 62,6557 triệu USD, tương đương khoảng 7,13 triệu USD. Tổng mức giảm của hai pool là 12,4299 triệu USD.
Hai mốc so sánh cách nhau ít hơn 30 ngày. Số dư quy đổi sang USD chịu ảnh hưởng cả từ lượng tài sản được nạp hoặc rút lẫn biến động định giá. Vì vậy, chỉ dựa vào mức giảm số dư thì chưa thể xác định toàn bộ nguyên nhân là người tham gia rút vốn, cũng không thể suy ra đã xảy ra tổn thất.
| Vị thế Umbrella trên Ethereum V3 | Vốn ngày 17/9 | Vốn ngày 17/10 | Thưởng bổ sung ngày 17/9 | Thưởng bổ sung ngày 17/10 |
|---|---|---|---|---|
| USDC | 58,7396 triệu USD | 53,4380 triệu USD | 1,66% | 1,82% |
| USDT | 69,7839 triệu USD | 62,6557 triệu USD | 1,46% | 1,63% |
Thưởng bổ sung tăng, mức khuyến khích thường niên gần như không đổi
Thưởng bổ sung cho USDC tăng 0,16 điểm phần trăm, còn USDT tăng 0,17 điểm phần trăm. Lợi suất cho vay cơ bản cũng thay đổi trong kỳ: USDC tăng từ khoảng 3,60% lên 3,77%, còn USDT từ khoảng 3,02% lên 3,12%. Lợi suất cơ bản phản ánh khoản thu từ hoạt động cho vay; phần thưởng bổ sung gắn với việc staking và rủi ro bị cắt giảm. Hai thành phần này cần được tính riêng.
Lấy số dư USD của mỗi vị thế nhân với mức thưởng bổ sung tương ứng, khoản thưởng thường niên quy đổi theo số liệu ngày 17/9 vào khoảng 1,9939 triệu USD. Tính theo số dư và mức thưởng ngày 17/10, kết quả cũng xấp xỉ 1,9939 triệu USD. Cụ thể, hai con số lần lượt là 1,99392312 triệu USD và 1,99385928 triệu USD; làm tròn đều vào khoảng 1,994 triệu USD.
Đây là ước tính mức chi thưởng thường niên dựa trên số liệu tại hai thời điểm, không phải khoản đã được thanh toán hay chi phí thực tế phát sinh. Phần thưởng thực nhận còn phụ thuộc vào diễn biến lãi suất, số dư staking, phân bổ phần thưởng và thay đổi vị thế của người tham gia trong kỳ.
Cơ chế thưởng có thể làm tăng tỷ lệ trên mỗi đơn vị vốn
Cơ chế của bộ điều khiển phần thưởng Umbrella cho thấy tỷ lệ thưởng bổ sung không nhất thiết tăng khi tổng ngân sách khuyến khích tăng. Đường cong phát thải liên kết quy mô phần thưởng với tỷ lệ giữa lượng tài sản staking thực tế và mục tiêu staking.
Khi lượng staking đạt mục tiêu, tổng phát thải đạt mức cao nhất. Nếu lượng staking nằm trong khoảng từ mức mục tiêu đến 120% mục tiêu, tổng phát thải giảm dần, thấp nhất gần 80% mức đỉnh. Khi lượng staking đạt hoặc vượt 120% mục tiêu, tổng phát thải tương đối ổn định. Trong bối cảnh đó, nếu vốn tham gia nhận thưởng giảm, dòng thưởng cố định hoặc gần cố định sẽ được chia cho ít vốn hơn, qua đó có thể đẩy tỷ lệ lợi suất trên mỗi đơn vị vốn lên cao.
Nếu lượng staking thấp hơn mục tiêu, cơ chế cũng có thể tăng phần thưởng trên mỗi đơn vị vốn để thu hút người tham gia, dù tổng phát thải vẫn thấp hơn mức đỉnh. Chỉ từ số dư và tỷ lệ thưởng ở hai thời điểm chưa thể xác nhận đường cong này áp dụng như thế nào cho từng pool. Cần đối chiếu thêm tham số hợp đồng và trạng thái số dư tại thời điểm đó.
Thời gian chờ rút vốn vẫn ảnh hưởng đến quy mô bảo vệ
Theo thiết kế tách biệt tài sản và mạng lưới của Aave, USDC staking chủ yếu bảo vệ quỹ dự trữ USDC, còn USDT staking gắn với quỹ dự trữ USDT. Tổng số dư của hai pool cho thấy quy mô chung, nhưng khả năng bảo vệ từng quỹ phụ thuộc vào lượng vốn staking được phân bổ riêng; không thể dùng tổng vốn để thay thế mức bảo vệ của từng tài sản.
Việc cắt giảm tài sản Umbrella chỉ có thể được kích hoạt sau khi khoản thiếu hụt thực tế của quỹ dự trữ vượt quá hạn mức bù lỗ áp dụng. Lớp bù lỗ trước tiên sử dụng nguồn vốn của DAO, sau đó mới có thể ảnh hưởng đến pool staking liên quan. Thời gian rút vốn cũng tác động đến khả năng sử dụng vốn của người tham gia: Aave áp dụng thời gian chờ 20 ngày, tiếp theo là cửa sổ rút tiền kéo dài hai ngày. Phần thưởng vẫn tích lũy trong thời gian chờ, nhưng vốn staking vẫn chịu rủi ro bị cắt giảm.
Các vị thế nói trên là staking Umbrella dạng wrapped-aToken trên Ethereum V3, có mã stkwaEthUSDC.v1 và stkwaEthUSDT.v1. Do các token này có tỷ lệ quy đổi, số dư tính bằng USD còn chịu ảnh hưởng từ biến động định giá tài sản và tỷ lệ quy đổi.
Ngày 25/9/2026, một đề xuất quản trị Aave xin gia hạn hạn mức cần thiết để chi trả phần thưởng Umbrella. Phạm vi đề xuất gồm phần thưởng đã tích lũy nhưng chưa nhận, các khoản còn nợ người từng staking và lượng phát thải còn lại cho đến ngày kết thúc phân bổ 2/12/2026. Đề xuất không thay đổi tỷ lệ phát thải, thanh khoản mục tiêu, tham số thời gian chờ, cơ chế bù lỗ hay ngày kết thúc phân bổ. Hạn mức này bao gồm cả khoản phải trả trong quá khứ và phần thưởng dự kiến phát hành trong tương lai, nên không thể xem toàn bộ là một ngân sách khuyến khích thường niên mới.
Tính đến ngày 17/10, phần thưởng bổ sung của cả hai pool cao hơn so với ngày 17/9, trong khi vốn bảo vệ giảm. Số liệu hiện có cho thấy mức khuyến khích trên mỗi đơn vị vốn tăng cùng lúc với quy mô vốn staking thu hẹp; chưa thể xác định biến động giá tài sản, lượng nạp hay hoạt động rút vốn là yếu tố chính nếu chưa đối chiếu số dư on-chain và tham số hợp đồng.